Bảo hiểm xã hội của người lao động, vì người lao động, nhưng lại do doanh nghiệp


Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể và trong quá trình học nghề. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động ( Điều 157 BLLĐ 2012).

Trong đó, tranh chấp về Bảo hiểm xã hội là loại việc tranh chấp có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động, Điểm d Khoản 1 Điều 201 BLLĐ 2012 đã khẳng định:
“1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:..
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.”
Cơ quan bảo hiểm xã hội khởi kiện người sử dụng lao động về việc nợ tiền Bảo hiểm xã hội là tranh chấp dân sự hay tranh chấp lao động?.
Xét về bản chất, thì việc cơ quan bảo hiểm xã hội khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp tiền bảo hiểm xã hội là tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ dân sự (theo nghĩa rộng). Dù quan hệ phát sinh tranh chấp là tranh chấp dân sự hay tranh chấp lao động, cũng đều được giải quyết trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ thanh toán nợ), theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Bảo hiểm xã hội.
Tuy rằng việc xác định loại quan hệ tranh chấp trong trường hợp này không ảnh hưởng đến vấn đề áp dụng pháp luật nội dung trong giải quyết yêu cầu khởi kiện, nhưng ngay từ khi thụ lý vụ án, Tòa án phải chỉ rõ: Vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không, theo quy định tại điều khoản nào của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 31 BLTTDS quy định các tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm: Tranh chấp“về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động”.
Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn 143/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 hướng dẫn về vấn đề này. Như vậy, Tranh chấp giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội với doanh nghiệp về khoản nợ tiền Bảo hiểm xã hội là tranh chấp lao động.
Trước mắt, chỉ có cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh mới được ký đơn khởi kiện tại Tòa án. Các cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện còn phải chờ ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao.
Vấn đề còn đang tranh luận: Theo Điểm b Khoản 2 Điều 151 BLLĐ 2007 có quy định: “…Tranh chấp về Bảo hiểm xã hội… giữa người sử dụng lao động với cơ quan Bảo hiểm xã hội do hai bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì do Tòa án nhân dân giải quyết…” như vậy chúng ta có căn cứ để giải quyết loại việc này tại Tòa án, tuy nhiên BLLĐ 2012 đã bỏ quy định này nên chưa có điều luật quy định về trường hợp này.
Doanh nghiệp bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về Bảo hiểm xã hội; quyết định xử phạt đồng thời áp dụng biện pháp buộc khắc phục hậu quả, là phải nộp số tiền Bảo hiểm xã hội còn thiếu. Khi doanh nghiệp không thực hiện việc nộp tiền thì cơ quan Bảo hiểm xã hội có được khởi kiện doanh nghiệp để đòi nộp số tiền còn nợ hay không ?
Khoản 3 Điều 4 của Nghị định số 86/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội đã quy định: “tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Chương II của Nghị định này”. Tại Chương II của Nghị định số 86/2010/NĐ-CP nêu trên đã có quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi: Không đóng BHXH (Điều 7), đóng BHXH không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc (Điều 8), chậm đóng Bảo hiểm xã hội (Điều 9), và hành vi đóng Bảo hiểm xã hội không đúng mức quy định (Điều 10). Tại các điều luật nêu trên đều có quy định biện pháp khắc phục hậu quả, gồm: Buộc doanh nghiệp phải nộp khoản tiền chưa đóng, đóng thiếu, đóng chậm trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày giao quyết định xử phạt và buộc phải đóng số tiền lãi của số tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng hoặc đóng thiếu, theo mức lãi suất đầu tư từ quỹ BHXHi, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt (Khoản 2 của các điều 7, 8, 9, 10).
Như vậy, nếu trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính về BHXH có quyết định áp dụng biện pháp buộc khắc phục hậu quả, và việc khắc phục hậu quả đó đã giải quyết được yêu cầu của cơ quan BHXH đòi khoản nợ tiền BHXH, thì Tòa án căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 168 BLTTDS để trả lại đơn kiện cho đương sự.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét